Lê Thanh Hải

Ðồng chí Lê Thanh Hải tham dự chương trình giao lưu nghệ thuật “Mùa xuân với đồng bào Hà Giang

Ðồng chí Lê Thanh Hải, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy TP Hồ Chí Minh; các đồng chí Ủy viên T.Ư Ðảng: Trung tướng Võ Trọng Việt, Chính ủy Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng Việt NamĐọc thêm...

Lê Thanh Hải

Bí thư Thành ủy Lê Thanh Hải: TP.HCM và Phnom Penh thúc đẩy hợp tác toàn diện

Chiều 23/4, tại các buổi tiếp ông Kep Chuk Tema, Bí thư kiêm Đô trưởng Kinh đô Phnom Penh (Vương quốc Campuchia), lãnh đạo Thành phố Hồ Chí Minh và Phnom PenhĐọc thêm..

Lê Thanh Hải

Bí thư Thành ủy Lê Thanh Hải: Giải pháp bảo đảm an sinh xã hội

Ban Dân vận Thành ủy TPHCM tổ chức hội nghị sơ kết việc thực hiện Chương trình hành động số 06 của Thành ủy TPHCM về các giải pháp nhằm bảo đảm an sinh xã hội trên địa bànĐọc thêm...

Lê Thanh Hải

Bí thư Thành ủy Lê Thanh Hải tiếp Tỉnh trưởng tỉnh Vân Nam (Trung Quốc)

Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy TPHCM Lê Thanh Hải đã tiếp ông Lý Kỷ Hằng, Tỉnh trưởng tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) nhân dịp ông đến thăm và tìm hiểu cơ hội hợp tác giữa hai địa phương Đọc thêm...

Nguyễn Tấn Dũng

Tiểu sử TT Nguyễn Tấn Dũng

Để tránh những luồng thông tin trái chiều và sai sự thật, Blog Thông tin về Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đưa ra một số thông tin về tiểu sử của thủ tướng VN NGUYỄN TẤN DŨNG Đọc thêm...

Vinashin giải quyết việc làm, thu nhập cho người lao động

0 nhận xét

Giải quyết việc làm để người lao động ổn định cuộc sống và sản xuất hiệu quả, đưa đơn vị từng bước vượt qua khó khăn, tiến tới hồi phục và phát triển đang là những công việc được triển khai mạnh mẽ ở các đơn vị thành viên Tập đoàn Vinashin.

Giảm dần tình trạng nghỉ luân phiên

Những ngày này, khi đến các đơn vị thành viên thuộc Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam (Vinashin) như Bạch Đằng, Nam Triệu, Hạ Long, Phà Rừng…, điều chúng tôi nhận thấy ngay là không khí lao động khẩn trương đang diễn ra tại các nhà máy. Kỹ sư và công nhân được huy động làm việc cả ngày cuối tuần để kịp hoàn thành tiến độ giao tàu…

Những chiếc tàu hiện đại mới xuất xưởng

Ở Tổng Công ty Công nghiệp Tàu thủy Bạch Đằng (Hải Phòng), Chủ tịch Công đoàn, ông Đào Nguyên Huấn cho biết, đơn vị có hơn 2.900 công nhân với mức thu nhập bình quân hiện nay khoảng 3 triệu đồng/tháng. Tiền bảo hiểm xã hội của người lao động đã được chi trả đầy đủ.

Ông Huấn cho hay, cách đây khoảng 1 tháng, công nhân còn phải giãn việc, dừng việc, chỉ làm 7-10 công/tháng do thiếu vật liệu sản xuất. Đến thời điểm này, nguyên vật liệu đã được bổ sung nên người lao động đã có việc làm ổn định hơn, với mức trung bình khoảng 20 công/tháng.

Cũng gặp phải những khó khăn như Bạch Đằng, Tổng Công ty Công nghiệp Phà Rừng khoảng thời gian trước tháng 8/2010, gần 6.000 công nhân phải nghỉ luân phiên do không đủ việc làm. Nhưng từ khi bắt tay thực hiện Đề án tái cơ cấu, theo Phó Tổng Giám đốc Nguyễn Quang Thăng, phần lớn số lao động nghỉ luân phiên của Tổng Công ty Phà Rừng đã được bố trí công việc, hiện chỉ còn khoảng 20% công nhân phải giãn việc để chờ đủ nguyên vật liệu.

Là một đơn vị thành viên sản xuất kinh doanh khá hiệu quả nhưng Công ty Đóng tàu Hạ Long cũng không tránh khỏi tình trạng mất ổn định lao động trong thời điểm khó khăn. Nhưng do đơn vị có những đối tác tin cậy nên không phải đối mặt với tình trạng thiếu hợp đồng, thiếu nguyên vật liệu sản xuất.

Tổng Giám đốc Công ty Nguyễn Đức Thận cho chúng tôi biết, kể từ khi thực hiện Đề án tái cơ cấu toàn diện Vinashin, tâm lý của người lao động đã ổn định. Hiện nay, gần 5.000 công nhân của Công ty có mức thu nhập bình quân 3,2 triệu đồng/tháng.

Còn ở Công ty Đóng tàu Phà Rừng, người lao động yên tâm và phấn khởi hơn khi đang dốc sức hoàn thành hợp đồng của Công ty Vận tải biển Vinalines với con tàu 34.000 tấn.

Lãnh đạo Tập đoàn cho biết, hết năm 2010, Vinashin sẽ đóng được 66 con tàu với doanh thu khoảng 600 triệu USD và đang đàm phán để có thể ký 110 hợp đồng đóng tàu trong năm 2011. Đây là lượng công việc khá lớn và người lao động có thể yên tâm sản xuất, không còn lo phải giãn việc, nghỉ việc.

Giải quyết lao động dôi dư

Sau khi tái cơ cấu, Vinashin sẽ giảm từ 216 xuống còn 43 đơn vị thành viên. Theo tính toán, số lao động dôi dư sẽ là 13.000 người tập trung chủ yếu ở các đơn vị sẽ được cổ phần hoá, chuyển giao, bán hoặc giải thể…

Chủ tịch Hội đồng thành viên Tập đoàn Vinashin, ông Nguyễn Ngọc Sự khẳng định, 13.000 lao động dôi dư sẽ được bố trí việc làm theo năng lực và nguyện vọng.

Theo kế hoạch này, Tập đoàn sẽ rà soát lại lao động để xác định những kỹ sư, công nhân lành nghề tiếp nhận vào làm việc tại một số nhà máy đóng tàu chủ lực.

Những lao động còn lại thuộc các công ty cổ phần hoá, bán hoặc chuyển giao sẽ được đơn vị tiếp nhận sử dụng, bố trí việc làm mới phù hợp với năng lực.

Người lao động tại một số ít các đơn vị phải đóng cửa, giải thể sẽ được Tập đoàn phối hợp với các doanh nghiệp, Liên đoàn Lao động, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội các địa phương để bố trí việc làm phù hợp, cũng như giải quyết chế độ hợp lý, hợp tình.

Một trong những nhiệm vụ quan trọng khác là trong thời gian tới đây, Tập đoàn sẽ đẩy mạnh công tác đào tạo nguồn nhân lực, đảm bảo đội ngũ kỹ sư, công nhân lành nghề đủ năng lực để tiếp cận nhanh các công nghệ tiên tiến, hiện đại.

Hiện nay, Vinashin có 13 trường đào tạo nghề đóng tàu, cung cấp một lượng lớn thợ lành nghề. Những đơn vị chưa có trường nghề cũng có những cách đào tạo hiệu quả.

Chẳng hạn, Công ty Đóng tàu Hạ Long đã tổ chức những lớp đào tạo tại chỗ có chuyên gia nước ngoài hoặc thợ lành nghề hướng dẫn rất cụ thể cho thợ mới vào nghề.

Tổng Giám đốc Công ty Đóng tàu Hạ Long Nguyễn Đức Thận cho biết, Hạ Long chủ trương đào tạo công nhân tại chỗ, trực tiếp hướng dẫn họ tìm hiểu các thiết bị công nghệ nhà máy đang sử dụng. Bởi thực tế, nhiều thợ trẻ dù được đào tạo ở trường dạy nghề nhưng khi vào làm việc tại nhà máy vẫn lúng túng, vì vậy cách hướng dẫn người lao động ngay trong điều kiện thực tế là cách làm mang lại hiệu quả tốt.

Tuy bước đường phía trước vẫn còn nhiều khó khăn, nhưng đang từng bước được tháo gỡ, lòng tin và nhiệt huyết của những người thợ đóng tàu Vinashin đang được khôi phục, củng cố, chúng ta có cơ sở tin rằng Vinashin đang hồi phục và sẽ phát triển./.


(Theo website Lê Thanh Hải)
Continue reading →

Khấu hao nhà ở tập thể khối hầm lò nằm trong chi phí sản xuất than

0 nhận xét






Chung cư Than Hà Lầm




Căn cứ quy hoạch được Tập đoàn phê duyệt, các đơn vị sẽ chủ động lập dự án xây nhà tập thể cho CB-CNV làm việc trong hầm lò. Tập đoàn sẽ hỗ trợ kinh phí xây dựng bằng việc cho vay từ quỹ đầu tư phát triển và từ các nguồn hợp pháp khác không quá 30% tổng dự toán dự án và trong thời hạn không quá 5 năm, lãi suất được tính theo biểu lãi suất  vay của Ngân hàng phát triển Việt Nam. Ngoài ra, Tập đoàn sẽ tiếp tục hỗ trợ từ quỹ phúc lợi, tập trung tối đa 10% tổng dự toán dự án xây dựng nhà ở.


Lãnh đạo Tập đoàn cũng đã chỉ đạo tính toán các chi phí tiền lương 2011 sao cho mức bình quân khối sản xuất than hầm lò đạt 7,7 triệu đồng/người/tháng, trong đó CN chính đào lò đá là 12,5 triệu đồng/người/tháng, CN khai thác than 10,2 triệu đồng (định mức ngày công trong tháng là 20); khối sản xuất than lộ thiên mức lương bình quân là 5,7 triệu đồng/người/tháng.






Về tiền ăn giữa ca, với khối sản xuất than nói chung là 25.000 đồng/người/công; ăn định lượng là 42.000 đồng/công và bồi dưỡng độc hại là 7.000 đồng/công.







(Theo website Lê Thanh Hải)
Continue reading →

Người “thắp lửa” cảng Khe Dây

0 nhận xét






Đại tá Lê Minh Khuê (thứ ba từ trái sang) trong Lễ tôn vinh DNQĐ tiêu biểu




Sinh ra ở Hải Dương, lớn lên ông tham gia thanh niên xung phong rồi nhập ngũ. Những năm tháng trong quân đội, ông đã trải qua nhiều cương vị công tác ở nhiều đơn vị khác nhau, song dù ở vị trí nào, ông đều phát huy tốt phẩm chất của người lính cụ Hồ, rèn luyện cho mình một bản lĩnh vững vàng trước khó khăn, đặc biệt ở ông là tư duy nhạy bén, đi trước của người làm kinh tế giỏi. Nhưng có lẽ, nơi mà đại tá Lê Minh Khuê gắn bó nhất và giành trọn tâm huyết chính là sự phát triển của cảng Khe Dây khi ông nhận quyết định của trên về làm giám đốc Công ty Cảng Đông Bắc.

  






Ông nhớ lại, ngày đó, Năm 2002, mặt bằng kho cảng của Công ty có 121.356 m2, với 1.021 m kè cảng, 2 máng cứng, năng lực xuống hàng 1,5 triệu tấn/năm. Ông đã mạnh dạn đầu tư, trang bị máy móc hiện đại để nâng công suất cảng như đầu tư trạm cân 60 tấn với tổng số tiền 391,7 triệu đồng; quy hoạch đổ sân bê tông kho than với tổng số tiền 6.184 triệu đồng; làm nhà kho vật tư với số tiền: 410,9 triệu đồng; trạm cấp phát nhiên liệu với số tiền 234 triệu đồng; đường dây chuyển tải điện 35KV và trạm biến áp trọn bộ 560 KVA với số tiền 1.680 triệu đồng; đường vận chuyển nội bộ với số tiền 242 triệu đồng; 2 kè hồ lắng môi trường với số tiền 3.151 triệu đồng; quy hoạch xây dựng kho công nghiệp Mông Dương để tiếp nhận than nguyên khai từ đầu năm 2009….Đến nay, Công ty đã có mặt bằng cảng 291.856,4 m2, 1.650 m kè cảng, 2 kho tiếp nhận than được bê tông hóa toàn bộ, 2 trạm cân, 2 máng cứng, 6 hệ thống sàng rung công suất lớn, 1 hệ thống máy nghiền, 3 dây chuyền rót than cho tầu 2 nghìn tấn, năng lực xuống hàng của Cảng đạt trên 4 triệu tấn/năm.






Dưới sự quan tâm, chỉ đạo của

 

Tổng Công

 

ty, ông cùng với tập thể CBCS Công ty đã tạo nên những bước phát triển rất đáng khích lệ của Công ty Cảng. Trong đó, với vai trò là người chỉ huy trực tiếp, Ông đã chủ động đề xuất cấp trên các phương án đầu tư có trọng tâm, trọng điểm; từng bước đổi mới, thay thế các dây chuyền, thiết bị công nghệ đã cũ, lạc hậu bằng các dây chuyền, thiết bị tiên tiến, hiện đại phù hợp với trình độ, tay nghề của công nhân; đáp ứng kịp thời yêu cầu nhiệm vụ sản xuất kinh doanh, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và hiệu quả sản xuất kinh doanh; từng bước thay thế dần từ lao động thủ công sang cơ giới hóa; mạnh dạn áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, cải tạo công nghệ đưa năng suất thiết bị tăng dần và ổn định, tăng gấp 1,4 lần so với năm 2002, sản lượng than tiếp nhận, chế biến và tiêu thụ của năm 2008 đã tăng gấp 1,5 lần, doanh thu tăng gấp 3,1 lần, mọi hoạt động trong kho cảng đều được tổ chức theo dõi, giám sát chặt chẽ qua hệ thống camêra đặt tại trung tâm điều hành sản xuất và kho G9






Đại tá Lê Minh Khuê luôn coi trọng và tạo điều kiện để các lớp CBCS Công ty phát triển, nhất là việc khuyến khích người lao động

 

phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật vào sản xuất. Bản thân ông đã có 2 sáng kiến sáng kiến, góp phần nâng cao năng suất lao động, tiết kiệm chi phí, đó là sáng kiến cải tiến thành công hệ thống máy sàng liên hoàn đưa năng suất tăng từ 80 tấn/giờ lên 200 tấn/giờ, nâng công suất phân loại than sạch, tỷ lệ thu hồi than cục cao, giảm chi phí sàng tuyển, chế biến, làm lợi về kinh tế cho Công ty mỗi năm trị giá trên 200 triệu đồng và sáng kiến thứ hai là thiết kế, chế tạo hệ thống băng tải rót than xuống tầu cơ động có công suất cao, rất phù hợp cho nhiều loại phương tiện thủy có trọng tải 2 nghìn tấn, làm lợi cho đơn vị về giá trị kinh tế mỗi năm 80 triệu đồng. Ngoài ra, từ năm 2002- 2008 Đại tá Khuê đã cùng lãnh đạo, chỉ huy Công ty bàn bạc đề xuất và thực hiện nhiều giải pháp hiệu quả trong sản xuất kinh doanh, như thu hồi than bùn tràn trôi ra biển, tận thu số than từ xít đất đá…mang lại hiệu quả kinh tế cao.






Chỉ cần nhìn vào bảng thành tích của Đại tá Lê Minh Khuê, có thể khẳng định được những đóng góp to lớn của ông cho sự phát triển của Công ty Cảng, nhất là việc không ngừng mở rộng và nâng công suất cảng Khe Dây, như Huân chương Lao động hạng Ba, Doanh nhân Quân đội tiêu biểu, Chiến sỹ thi đua Toàn quốc và nhiều năm liên tục là chiến sỹ thi đua toàn quân….Dẫu thế, khi nói về cá nhân, Đại tá Khuê vẫn khi khiêm tốn cho rằng đó thành tích chung của tập thể Công ty Cảng, hãy viết về năng lực cảng Khe Dây nay mai khi dự án

 

mở rộng và nâng công suất cảng hoàn thành. Song mỗi cán

 

bộ, chiến sỹ và người lao động Công ty Cảng hiểu hơn ai hết, chính ông là người đã “thắp lửa” cho Cảng Khe Dây.







(Theo website Lê Thanh Hải)
Continue reading →

Xứng đáng là Cảng Quốc gia

0 nhận xét



Tìm hiểu về quá trình phát triển của Công ty sau 15 năm thành lập (1995- 2010), chúng tôi được biết bên cạnh những thuận lợi, Công ty gặp không ít khó khăn như: cơ cấu tổ chức thay đổi, nguồn vốn đầu tư hạn chế, sản lượng than tiếp nhận của các đơn vị sản xuất gồm nhiều chủng loại, tỷ lệ than phẩm cấp xấu cao so với kế hoạch trên giao. Đặc biệt năm 2008 sản lượng tiêu thụ than gặp nhiều khó khăn, do ảnh hưởng suy thoái kinh tế toàn cầu, lạm phát tăng cao, giá cả vật tư, nhiên liệu, thiết bị, vật liệu phục vụ sản xuất và xây dựng cơ bản liên tục tăng cao, đã làm ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả hoàn thành nhiệm vụ chính trị của đơn vị. Song với tinh thần đoàn kết, kỷ luật, đồng tâm, cán bộ, công nhân viên và người lao động trong Công ty đã nỗ lực phấn đấu không ngừng vươn lên để vượt qua mọi khó khăn thử thách, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ sản xuất kinh doanh và huấn luyện quân sự.






Trong 15 năm thành lập, giai đoạn (2005-2010) là thời gian trưởng thành và phát triển mạnh nhất của Công ty. Đảng uỷ, chỉ huy Công ty đã có nhiều chủ trương, giải pháp đúng đắn trong lãnh đạo và chỉ đạo đơn vị để hoàn thành toàn diện các chỉ tiêu, kế hoạch trên giao. Công ty đã xây dựng hàng loạt các công trình như: Trạm cân 60 tấn với tổng giá trị 392 triệu đồng; quy hoạch đổ sân bê tông kho than với tổng giá trị trên 6 tỷ đồng; làm nhà kho vật tư với giá trị 410 triệu đồng; trạm cấp phát nhiên liệu với giá trị 234 triệu đồng; đường dây chuyển tải điện 35KV và trạm biến áp trọn bộ 560 KVA với giá trị 1,6 tỷ đồng; xây 2 kè hồ lắng môi trường với số tiền 3,2 tỷ đồng; đầu tư hệ thống cung cấp nước sạch vào Cảng khe dây 700 triệu đồng; đầu tư cơ sở vật chất tại Cảng khe dây (sân bê tông kho than, hệ thống báo cháy, nhà văn hoá..) 2 tỷ đồng v.v. Công ty xây dựng đủ nhà xưởng, kho bãi để các thiết bị phục vụ công cho tác sửa chữa, gia công cơ khí và bảo quản xe máy; Công ty mua sắm mới ô tô, máy xúc hiện đại đáp ứng đủ năng lực phục vụ cho SXKD và thực hiện các nhiệm vụ khác.






Hiện nay, Công ty có 26 ha đất Cảng Khe Dây được Chính phủ giao quyền sử dụng đất vào mục đích phục vụ Quốc phòng, đơn vị san lấp hoàn thiện theo quy hoạch; gần 200 ngàn mét vuông nền kho được bê tông hoá 100% đảm bảo đủ tiêu chuẩn kho chứa than; xây dựng thêm 120 m cầu cảng và lắp đặt đủ các thiết bị rót than công suất lớn, hoàn thiện luồng và vị trí neo đậu cho tàu vào nhận than; Cảng đơn vị quản lý đã được Bộ giao thông Vận tải công bố trong danh mục Cảng nội địa của Quốc gia. Mặt bằng Cảng Công ty đã có 2 kho tiếp nhận than, 2 trạm cân, 2 máng cứng, 5 hệ thống sàng rung công suất lớn, 1 hệ thống máy nghiền, 3 dây chuyền rót than cho tầu 2 ngàn tấn, năng lực xuống hàng của Cảng đạt trên 5 triệu tấn/năm.








 

Bên cạnh đó Công ty đã đầu tư củng cố, xây dựng các công trình phục vụ nơi ở, nơi sinh hoạt và các công trình phúc lợi khác phục vụ nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người lao động. Tổng mức đầu tư từ khi đơn vị thành lập đến nay trên 100 tỷ đồng. Riêng trong 5 năm qua (2005-2010) Công ty đã thực hiện được trên 70 tỷ đồng. Do đầu tư đúng hướng, có hiệu quả đã góp phần tiết kiệm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm, tạo đà cho SXKD của đơn vị liên tục phát triển và tăng trưởng ổn định từ 12-15%/năm. Thu nhập của CNCB Công ty luôn tăng. Năm 2005 thu nhập bình quân đạt 3,3 triệu đồng/người/tháng, năm 2009 thu nhập bình quân đạt 6,8 đồng/người/tháng; trong 10 tháng năm 2010 thu nhập bình quân đạt trên 7 triệu đồng/ người/tháng.








Trong công tác quản lý, Công ty đã thực hiện tốt cơ chế khoán quản trị chi phí sản xuất đến các tổ, phân xưởng, tăng cường công tác kiểm tra, theo dõi, kiên quyết xử lý các tập thể, cá nhân chấp hành không nghiêm, do vậy đã góp phần tiết kiệm chi phí trong sản xuất, nâng cao giá trị sản phẩm và hiệu quả sản xuất kinh doanh. Trong sản xuất kinh doanh, công tác an toàn- bảo hộ lao động luôn được Công ty quan tâm và đặt lên hàng đầu, vì vậy đơn vị đã đảm bảo an toàn tuyệt đối về mọi mặt. Đây là một thành công lớn trong SXKD của Công ty trong những năm qua.






Về công tác tổ chức và con người, đơn vị đã tích cực kiện toàn cơ cấu biên chế, xây dựng nguồn lực con người có chất lượng, đáp ứng yêu cầu chỉ đạo, quản lý và điều hành sản xuất kinh doanh. Trình độ đại học, cao đẳng, trung cấp ngày càng tăng. Đến nay Công ty đã có 50 người có trình độ đại học; 7 người có trình độ cao đẳng; 35 người có trình độ trung cấp và 147 công nhân kỹ thuật; đây là sự nỗ lực cố gắng, quyết tâm cao của lãnh đạo, chỉ huy Công ty trong việc củng cố xây dựng chiến lược nguồn lực con người, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới.






Do luôn hoàn thành nhiệm vụ được giao, làm công tác sản xuất và chăm lo đời sống người lao động, Công ty đã được Nhà nước tặng thưởng nhiều phần thưởng cao quý: Huân chương LĐ hạng Ba (2007); Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ (2004, 2009) và nhiều bằng khen, cờ thi đua của Tỉnh Quảng Ninh, Bộ Quốc phòng, Bộ Văn hóa Thông tin, Bộ Công thương, Tập đoàn Viancomin, Tổng công ty Đông Bắc, Tổng cục Hậu cần, Tổng cục Chính trị v.v.







(Theo website Lê Thanh Hải)
Continue reading →

Đường lớn đã mở

0 nhận xét

Cảng Khe Dây đang được nâng cấp

Quyết định sáng suốt

Được biết, trước khi ra quyết định phê duyệt đề cương dự án trên của Tổng Công ty Đông Bắc (lãnh đạo Tập đoàn đã xem xét tới nhiều phương án xây dựng cảng, mở đường vận chuyển, tiêu thụ than lâu dài cho khu vực Cao Sơn, Khe Chàm, Mông Dương …để tránh quốc lộ 18 và nhiều mục đích khác. Nhưng tất cả các phương án đã được xem xét đều bộc lộ những yếu điểm, bất cập về kinh tế, về kỹ thuật, môi trường v.v. Sau khi lãnh đạo và các cơ quan chuyên môn của Tập đoàn khảo sát cảng Khe Dây, Chủ tịch HĐQT, Tổng Giám đốc đã quyết định chọn Khe Dây. Bởi, đây là cảng nước sâu, được Tổng Công ty Đông Bắc đầu tư xây dựng nhiều năm nay với hệ thống đồng bộ, trên diện tích 25 ha, bờ cảng dài 1,5 km; cầu cảng 400 mét đạt tiêu chuẩn quốc tế; hệ thống bốc rót hiện đại có công suất 500 tấn/giờ v.v.

Như vậy, để đáp ứng yêu cầu vận chuyển , tiêu thụ than cho khu vực trên chỉ cần nâng cấp cảng Khe Dây và xây dựng các kho than, hệ thống băng tải chứ không xây dựng mới như các phương án khác. Mặt khác, hệ thống băng tải, kho bãi trong dự án này nằm trong khu vực đồi núi, chi phí đền bù giải phóng mặt bằng thấp; ít ảnh hưởng đến dân sinh. Một dự án lớn nhưng chi phí gải phóng mặt bằng chỉ có 15 tỷ đồng.

Với những ưu thế nổi trội đó, ngày 22/12/2009, Tổng Giám đốc Tập đoàn đã ra quyết định phê duyệt đề cương dự án lập dự toán đầu tư cải tạo nâng cấp cảng Khe Dây, xây dựng kho than tập trung và hệ thống băng tải than đến cảng (Quyết định số 2963/QĐ TKV, ngày 22/12/2009).

Căn cứ quyết định phê duyệt đề cương của Tập đoàn, Tổng Công ty Đông Bắc (chủ đầu tư) đã lựa chọn CÔng ty Tư vấn Đầu tư mỏ & Công nghiệp làm tư vấn thiết kế, lập dự toán.

Đến ngày, 29/9/2010, Tổng Giám đốc Tổng Công ty Đông Bắc ra quyết định phê duyệt dự án trên. Theo đó, giai đoạn 1, Tổng Công ty Đông Bắc sẽ đầu tư cải tạo nâng cấp cảng Khe Dây thêm 100 mét, lắp thêm thiết bị bốc rót, công suất 1000 tấn/giờ; xây dựng kho than tập trung ở đầu nguồn với sức chứa 500 nghìn tấn và kho ở cảng 500 nghìn tấn; xây dựng lắp đặt hệ thống băng tải kín dài gần 2000 mét từ kho than tập trung đến cảng, với năng lực vận tải 1000 tấn/ giờ và nhiều hạng mục khác. Với quy mô này, hệ thống kho bãi, vận chuyển , cảng và nhiều hạng mục công trình khác trong dự án hoàn toàn đáp ứng được nhu cầu vận chuyển, tiêu thu cho khu vực trên.

Dự án được địa phương quan tâm ủng hộ

Giám đốc Công ty Cảng-đơn vị được Tổng Công ty Đông Bắc giao nhiệm vụ quản lí thực hiện dự án cho biết, ngay từ khi triển khai dự án, đơn vị đã được lãnh đạo, các cơ quan chức năng và nhân dân địa phương đặc biệt quan tâm và nhiệt tình ủng hộ nên công tác chuẩn bị đầu tư rất thuận lợi, triển khai nhanh. Các cơ quan quản lí nhà nước thuộc các lĩnh vực mà dự án liên quan tới như môi trường, giao thông v.v.từ địa phương tới các bộ đều tạo mọi điều kiện thuận lợi cho chủ đầu tư. Bởi vậy, chỉ sau 2 tháng, kể từ khi dự án được phê duyệt, mọi thủ tục cho công tác chuẩn bị đầu tư cơ bản đã xong. Theo các đồng chí lãnh đạo Công ty Cảng, sở dĩ công tác chuẩn bị cho dự án xúc tiến nhanh là bởi, dự án đi đúng chủ trương của tỉnh và đáp ứng nguyện vọng của nhân dân địa phương về bảo vệ môi trường, góp phần giảm thiểu tai nạn giao thông trong khu vực. Mặt khác, các thủ tục pháp lí về cảng biển biển và một số lĩnh vực khác đã cơ bản hoàn chỉnh từ trước; không mất nhiều thời gian so với làm thủ tục cho cảng mới.

Tổng Công ty Đông Bắc chỉ đạo, công tác thi công được thực hiện theo kiểu “cuốn chiếu”; giải mặt bằng đến đâu, thi công đến đó. Công ty Cảng hiện đang huy động hàng chục đầu thiết bị, xe máy, tổ chức sản xuất 3 ca để san gạt mặt bằng kho chứa than. Được biết, Công ty Cảng là đơn vị có nhiều năng lực và kinh nghiệm trong san lấp mặt bằng, xây dựng kết cấu hạ tầng. Hầu hết các công trình kết cấu hạ tầng của Công ty như nhà ở, khu văn phòng, các công trình cảng biển, đường, kho bãi v.v.đều do đơn vị “tự lực cánh sinh”. Con đường vận tải than chuyên dụng, mặc dù thi công trong địa hình đồi núi phức tạp, nhưng đến nay, Công ty đã hoàn thành 150 nghìn m3, trong tổng số 1 triệu m3 của hạng mục công trình kho than. Dự kiến, dự án kết thúc cuối năm 2011.


(Theo website Lê Thanh Hải)
Continue reading →

Đưa mẹ Thứ về với đất mẹ

0 nhận xét

(SGGPO).-

Sáng 14-12, lễ truy điệu mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Thứ – người có 9 con trai, 1 con rể và 2 cháu ngoại là liệt sĩ – được Bộ Lao động Thương binh – Xã hội, tỉnh Quảng Nam, huyện Điện Bàn cùng gia đình tổ chức long trọng tại xóm Rừng, thôn Thanh Quýt 2, xã Điện Thắng Trung (huyện Điện Bàn). Hàng ngàn người đến tiễn đưa mẹ về với đất mẹ ân tình…

 





Long trọng tiễn đưa mẹ Thứ về với đất mẹ Điện Bàn


Từ mờ sớm, hàng ngàn người dân, các bạn trẻ đến từ Quảng Nam, Đà Nẵng và nhiều tỉnh thành trên cả nước, có cả người nước ngoài đến viếng và tiễn đưa mẹ. Đám tang mẹ đông nghịt người, già có, trẻ có… Trong số những người đến dự tang mẹ, có những cựu chiến binh – những người đã từng gắn bó với gia đình mẹ – đã rơi lệ thương tiếc mẹ. 












Mẹ ra đi ở cái tuổi 106 nhưng đã để lại những trống vắng trong lòng người dân, trong lòng những cựu chiến binh đã từng gắn bó với mẹ bởi sự cống hiến lớn lao vô bờ bến của mẹ, của gia đình mẹ với xóm làng, với quê hương và nền độc lập dân tộc của đất nước. Chiến tranh đã cướp đi bao tuổi thanh xuân, phá vỡ hạnh phúc biết bao gia đình Việt Nam với biết bao nỗi mất mát, đau thương. Nhưng hơn ai hết, mẹ Thứ đã đau, đau như cắt từng khúc ruột khi lần lượt 9 người con trai, 1 con rể và 2 cháu ngoại hy sinh. 9 lần tiễn con lên đường là chuỗi ngày chờ đợi, thế nhưng, cuộc đời đã quá cay nghiệt với mẹ khi 9 người con thân yêu của mẹ đã đi mãi không về.

Đau hơn ai hết, 9 giờ ngày 30-4-1975 – khi chỉ còn vài giờ nữa là thống nhất non sông thì anh Lê Tự Chuyển – một chiến sĩ biệt động Sài Gòn đã nằm xuống trên đường dẫn một cánh quân về giải phóng Sài Gòn. Khi đất nước trọn niềm vui chiến thắng thì cũng là lúc mẹ vĩnh biệt đứa con thứ 9 của mình, mẹ lại lần nữa nuốt nước mắt vào trong. Mỗi lần mẹ nhận tin con là mỗi lần tim mẹ ứa máu, mắt mẹ rơi lệ, tâm can mẹ héo hon.

 




Ông Lê Phước Thanh, Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam đọc điếu văn ôn lại cuộc đời M



ẹ Thứ.


Trong lễ truy điệu của mẹ ngập tràn những cặp mắt đỏ hoe khi ông Lê Phước Thanh, Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam, đọc điếu văn kể về cuộc đời hy sinh, cống hiến của mẹ. Lễ truy điệu như chìm vào những thước phim quay chậm về cuộc đời mẹ với bao hy sinh, mất mát, với nỗi đau mất con, mất cháu. Những thước phim ấy xúc động hàng ngàn con tim của những người dự tang.


“Dẫu biết rằng sinh – lão – bệnh – tử là lẽ thường tình của cuộc đời mỗi con người, hơn nữa, với cái tuổi 106 của mẹ đã là thượng thượng thọ, nhưng mẹ mất đi vẫn là nỗi đau không gì bù đắp được. Mẹ ra đi, nhưng hình ảnh người mẹ thân thương, tấm gương mẫu mực của một bà mẹ Việt Nam anh hùng vẫn còn đó trong mỗi chúng ta và con cháu mai sau… Mẹ vĩ đại bởi tấm lòng trung trinh, trong sáng không gợn chút tư lợi đòi hỏi công lao cống hiến, đã từng cùng chồng nhường suất nhà tình nghĩa cho những gia đình liệt sĩ khác…” – Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam Lê Phước Thanh xúc động.









Nhiều bạn trẻ từ khắp nơi đổ về thắp hương viếng mẹ Thứ




Trong lễ truy điệu mẹ Thứ, bà Joanne Luke, chuyên gia người Úc của Hội Trợ giúp người tàn tật Việt Nam, tâm sự: “Tôi không họ hàng, không thân thích với mẹ Thứ, nhưng tôi đến đám tang mẹ để thắp nén nhang đưa tiễn mẹ. Tôi không biết nhiều về mẹ, nhưng qua tình cảm mọi người dành cho mẹ tôi biết đó là một người mẹ vĩ đại, một người phụ nữ Việt Nam hiền từ, nhân hậu và đầy đức hy sinh. Và tôi thật sự ấn tượng trước tấm lòng của mọi người đối với mẹ Thứ”. 

 





Bà Joanne Luke, chuyên gia người Úc của Hội Trợ giúp người tàn tật Việt Nam, thắp hương phúng viếng mẹ Thứ. Ảnh: N. KHÔI



Trên đường đưa mẹ về Nghĩa trang liệt sĩ Điện Bàn, quãng đường chỉ 2 cây số bỗng xa vời vợi, thời gian nặng nề trôi qua. Hai bên đường quốc lộ 1A chật kín người dân cúi đầu đưa tiễn. 10 giờ 30, mẹ về với đất mẹ ân tình. Xin mượn mấy câu trong bài Đất nước của Phạm Minh Tuấn như một lời tri ân, một lời tiễn đưa mẹ – người mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Thứ về với đất mẹ Quảng Nam:

“Xin hát về người đất nước ơi!/Xin hát về mẹ Tổ quốc ơi, suốt đời lam lũ…/Xin hát về mẹ Tổ quốc ơi, mấy mùa không ngủ/Ngăn bước quân thù phía Nam phía Bắc/Vai mẹ lại gầy gánh gạo nuôi con…”.




NGUYÊN KHÔI






 









Thông tin liên quan





(Theo website Lê Thanh Hải)
Continue reading →

Lễ hội văn hóa trà Lâm Đồng

0 nhận xét



Lễ hội văn hóa trà Lâm Đồng lần thứ 3 – 2010 sẽ diễn ra từ ngày 25 đến 27-12 tại thành phố Bảo Lộc. Ngoài mục đích tôn vinh những người trồng và chế biến trà, quảng bá, giới thiệu tiềm năng, thế mạnh tạo cơ hội giao thương, hợp tác phát triển, lễ hội còn nhằm cổ vũ phong trào “Người Việt Nam dùng hàng Việt Nam”. PV Báo SGGP đã có cuộc phỏng vấn ông Huỳnh Vĩnh Ái (ảnh), Thứ trưởng Bộ VH-TT-DL, xung quanh mục đích, ý nghĩa của lễ hội này.






- PV: Ông đánh giá thế nào về tiềm năng, thế mạnh và triển vọng của cây trà nước ta?




- Thứ trưởng HUỲNH VĨNH ÁI: Việt Nam xuất khẩu trà đứng thứ 5 thế giới, trà Việt Nam có mặt ở 110 quốc gia và vùng lãnh thổ. Năm 2009, xuất khẩu ước đạt 133.000 tấn với kim ngạch 178 triệu USD, tăng 27,35% về lượng và 21,27% về giá trị so với năm 2008. Hiện nay, cả nước có khoảng 130.000 ha trà với bình quân 6,5 tấn trà búp tươi/ha, thu hút 6 triệu lao động khu vực nông thôn của 34 tỉnh, thành phố; tạo việc làm cho 6 triệu lao động với thu nhập 19,5 triệu đồng/ha/năm. Theo kế hoạch, ngành trà Việt Nam đang phấn đấu hết năm 2010 đạt 120.000 tấn với kim ngạch 200 triệu USD. Những kết quả đạt được trong những năm gần đây đã phản ánh tiềm năng thế mạnh và triển vọng của ngành trà nước ta là rất lớn.

-

Lễ hội lần này không đơn thuần chỉ là lễ hội văn hóa, thưa ông?




- Đây là lễ hội lần thứ 3 được tổ chức tại Lâm Đồng. Còn nhớ, tại lễ hội lần thứ nhất diễn ra ngày 24-12-2006, ban tổ chức đã trao 17 cúp “Cánh chè vàng” và 9 cúp “Văn hóa trà” cho 26 đơn vị sản xuất và kinh doanh trà cả nước, xác lập 5 kỷ lục. Theo đó là các hoạt động văn hóa diễn ra hết sức sôi động tạo nên sức hấp dẫn thu hút nhiều thành phần, đối tượng tham dự. Trong đó có những hoạt động được xem là kỷ lục của Việt Nam như: Lễ hội thắp nến tình yêu có 1.000 cặp nam, nữ tham dự. Vũ hội có số lượng người tham dự đông nhất gồm 1.000 đôi nam nữ tham dự…


Tại lễ hội lần này, ngoài các hoạt động chính, hoạt động phối hợp, hoạt động mở với nhiều chương trình đặc sắc, đa dạng như chương trình diễu hành đường phố, phố trà mến khách, chương trình sắc màu Nam Tây Nguyên, giọng hát hay xứ trà… với mục đích nhằm tôn vinh những người trồng và chế biến trà, quảng bá, giới thiệu tiềm năng, triển vọng của cây trà Việt Nam còn là dịp cổ vũ phong trào và kêu gọi mọi tầng lớp trong xã hội thực hiện tốt chủ trương cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” mà Đảng và Nhà nước đã triển khai. Cuộc vận động đã mở ra cơ hội cho các doanh nghiệp Việt Nam đưa các sản phẩm của mình đến với cộng đồng. Theo đó, không những nâng cao ý thức trách nhiệm đối với người tiêu dùng mà còn tạo cơ hội cho các doanh nghiệp mở rộng thị trường nội địa vốn có nhiều tiềm năng chưa được khai thác triệt để. Vì vậy, lễ hội lần này không đơn thuần là lễ hội văn hóa trà.

- Ông có thể nói thêm nét đẹp văn hóa truyền thống về phong tục uống trà của người Việt và sự phát triển của trà Bảo Lộc – Lâm Đồng.




- Phong tục uống trà hay thưởng thức trà là nét đẹp, nét văn hóa đặc sắc của người Việt có từ lâu đời nay và đã trở thành một loại hình nghệ thuật. Nghệ thuật uống trà phản ánh phong cách ứng xử của người Việt, là chiếc cầu nối quan trọng cho sự giao tiếp trong xã hội. Ngày nay, nghệ thuật uống trà đã thu hút đông đảo đối tượng trẻ tham dự bằng những câu lạc bộ uống trà, ngày văn hóa trà Việt xuất hiện. Ngoài ý nghĩa về văn hóa thì việc thưởng thức trà, hay uống trà thường xuyên còn có tác dụng chữa được nhiều bệnh. Việc Lễ hội văn hóa trà lần này được tổ chức tại TP Bảo Lộc (Lâm Đồng), địa phương có truyền thống chế biến và sản xuất trà lớn nhất nước là hoạt động rất có ý nghĩa. Thông qua lễ hội nhằm giới thiệu tiềm năng, thế mạnh của việc trồng và chế biến các sản phẩm trà để các cá nhân, đơn vị, doanh nghiệp trồng và chế biến, kinh doanh sản phẩm có dịp giao thương, phát triển. Riêng tại TP Bảo Lộc, nghề trồng và chế biến trà có từ những năm 30 của thế kỷ trước, chiếm 50% diện tích đất nông nghiệp, sản lượng hàng năm đạt 72.500 tấn, có giá trị sản xuất đạt 500 tỷ đồng/năm chiếm 20% giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn. Tạo tiền đề cho dịch vụ thương mại xuất khẩu phát triển. Trong đó, trà B’lao đã có thương hiệu nổi tiếng. Nói đến trà B’lao tức nói đến thương hiệu trà Bảo Lộc – Lâm Đồng, thương hiệu trà của người Việt.




- Xin cảm ơn ông






VÕ HÙNG

(thực hiện)



(Theo website Lê Thanh Hải)
Continue reading →